SK-37:Cao bạch quả giúp lưu thông huyết não

Recent Pages:  1, 2, 3, 4, 55a, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38,

Cao bạch quả giúp lưu thông huyết não

Bạch quả giúp máu lưu thông lên não, các tế bào thần kinh thông với nhau, phục hồi và tăng cường trí nhớ.

Dược liệu này còn giúp não nhận được nhiều dưỡng khí và tẩy sạch những ô nhiễm trong não, giúp những người làm việc trí não nhiều được sáng suốt hơn.

Trong các bài thuốc dân gian trị bệnh về não của người Trung Quốc luôn có một vị thuốc cơ bản là cao bạch quả. Người Tây Âu và Mỹ nhiều thập kỷ nay cũng đã nghiên cứu bạch quả để chiết xuất ra các loại thuốc chữa chứng bệnh nan y. Còn ở Việt Nam, cao bạch quả cũng là vị thuốc quý được sử dụng trong rất nhiều trong các sản phẩm Đông y.

Bạch quả được gọi là ngân hạnh hay công tụ, tên khoa học là Ginkgo biloba, có xuất xứ từ Trung Quốc, gần đây được đưa về trồng ở Việt Nam. Trong sách thuốc cổ truyền của Trung Hoa từ 2.800 năm trước Công nguyên, bạch quả đã được coi là vị thuốc quý. Các nước châu Âu và Mỹ vốn tin vào thuốc Tây chữa bệnh, nhiều thập kỷ nay cũng ngạc nhiên trước công dụng của bạch quả. Bởi khi tiến hành phân tích, họ đã phát hiện ra lá bạch quả có chứa flovone glycosides và terpene lactones – có khả năng trị và ngăn ngừa rất nhiều loại bệnh.

Với hệ tuần hoàn, bạch quả giúp máu di chuyển trong cơ thể được dễ dàng, làm tiêu mỡ, tiêu những chất độc trong máu, đánh tan cục máu đông, làm giãn các mạch máu nhất là với người già, khai thông hệ tuần hoàn máu lên não và tới các chi. Khi tuần hoàn máu được thông suốt, cơ thể con người sẽ khoẻ mạnh, trí não cũng nhờ đó mà minh mẫn hơn, chứng nhức mỏi, tê bì cũng được cải thiện.

Thuốc từ bạch quả hỗ trợ cho bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, các rối loạn tâm thần tập tính của người cao tuổi như: rối loạn trí nhớ, giảm khả năng trí tuệ, lú lẫn và rối loạn trong hành vi cư xử. Ginkgo biloba là thuốc được lựa chọn để điều trị chóng mặt và ù tai, tổn thương võng mạc do căn nguyên thiếu máu, tắc nghẽn động mạch chi dưới mãn tính. Nó làm chậm sự tiến triển của bệnh và làm nhẹ bớt triệu chứng để giảm bớt tình trạng sa sút trí tuệ.

Dù bạch quả có rất nhiều lợi ích cho sức khoẻ nhưng nó cũng có một số tác dụng phụ, đặc biệt khi được kết hợp với các vị thuốc khác với liều lượng không thích hợp. Do đó, việc đưa cao bạch quả vào các bài thuốc hoặc sản phẩm dược cũng được các bác sĩ Đông y và các công ty dược phẩm cân nhắc kỹ lưỡng. Đơn cử, trong sản phẩm viên nang hoạt huyết dưỡng não của Công ty cổ phần dược TW Mediplantex, cao bạch quả được kết hợp với liều lượng hợp lý cùng 11 vị thuốc thảo dược trong bài thuốc cổ phương “Huyết phủ trục ứ thang”, gồm đương qui, đào nhân, chỉ xác, sài hồ, cát cánh, xuyên ngưu tất, sinh đại hoàng, hồng hoa, xích thược, xuyên khung, cam thảo.

Cao_1.JPG

Nhờ được nghiên cứu kỹ lưỡng về liều lượng các vị thuốc, đặc biệt là vị thuốc cao bạch quả, với sự cố vấn của nhóm các nhà nghiên cứu: Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Ngọc Bùng, tiến sĩ y dược học cổ truyền Phùng Hòa Bình, sản xuất trên một dây chuyền hiện đại kiểm soát nghiêm ngặt, viên nang Hoạt huyết dưỡng não Cerecaps vừa giúp phá huyết tiêu ứ mạnh, vừa bổ khí huyết, tăng cường tuần hoàn não nhanh chóng. Thuốc được bào chế từ hai nhóm các vị thuốc: nhóm các vị thuốc bổ huyết trong Đông y như: đương quy, xuyên khung, bạch thược, sinh địa có tác dụng sinh huyết, tăng sản xuất hồng cầu, cải thiện số lượng và chất lượng máu. Nhóm các vị thuốc hoạt huyết gồm hồng hoa, cao bạch quả, ngưu tất, chỉ thực, cam thảo, đương qui, xuyên khung có tác dụng hoạt huyết, cải thiện lưu thông máu.

Các hợp chất ginkgolid của cao bạch quả, đặc biệt ginkgolid B là chất đối kháng của PAF. Ginkgolid B có tác dụng ức chế mạnh sự giảm lượng tiểu cầu và co thắt phế quản.

Công dụng điều trị:

Não suy

Là tập hợp các triệu chứng của tình trạng sa sút trí tuệ. Trong sa sút trí tuệ thoái hóa, có sự mất tế bào thần kinh và suy giảm dẫn truyền thần kinh, tình trạng giảm chức năng trí tuệ kết hợp với rối loạn về cung cấp oxy và glucose. Trên lâm sàng, bạch quả có tác dụng điều trị não suy, gồm suy giảm sự tập trung và trí nhớ, lú lẫn, mất nghị lực, mệt mỏi, giảm vận động thể lực, tâm trạng trầm cảm, lo âu, chóng mặt, ù tai và nhức đầu. Bạch quả có nhiều cơ chế tác dụng như tác dụng điều hòa trên mạch máu, làm tăng lưu lượng máu, tác dụng về lưu biến máu, làm giảm độ nhớt của máu, tăng dung nạp đối với sự thiếu oxy ở mô, cải thiện rối loạn dẫn truyền thần kinh và dự phòng sự thương tổn màng do gốc tự do.

Ở người, cao bạch quả làm tăng lưu lượng máu não toàn bộ, cục bộ và vi tuần hoàn, bảo vệ đối với tình trạng giảm oxy trong không khí thở vào, cải thiện lưu biến máu, ức chế kết tập tiểu cầu, cải thiện chuyển hóa ở mô và giảm độ thấm mao mạch. Cao bạch quả tiêu chuẩn hóa với liều 120mg có tác dụng giống như dihydroergotoxin với liều 4,5mg sau 6 tuần điều trị.

Ngoài công dụng trong bệnh mạch máu não, sa sút trí tuệ, bồi bổ trí nhớ, ginkgo còn được dùng trong chỉ định chống ù tai, trị khó chịu khi leo núi cao, giảm phản ứng dễ bị lạnh, giúp khá hơn bệnh thoái hóa điểm vàng trong mắt, suyễn và thiếu giảm oxy trong máu, trong mô.

Theo dược sĩ Lê Thành Lâm, trưởng nhóm nghiên cứu bào chế thuốc Cerecaps: “Việc gia giảm một lượng thích hợp cao bạch quả trong Cerecaps khiến thuốc không chỉ tốt hơn về khả năng hoạt huyết mà còn an toàn với những người mắc các bệnh có liên quan đến thiếu máu, tuần hoàn não kém như đau đầu, ù tai, hoa mắt, chóng mặt, hay cáu gắt ở người có tuổi, mất ngủ, ngủ hay mê, suy giảm trí nhớ; di chứng do tai biến mạch máu não; thiếu máu, sạm da, đứng lên ngồi xuống hay bị chóng mặt; căng thẳng, mệt mỏi, mất tập trung; hay chứng tê bì, nhức mỏi chân tay…

ST

sac-thu-2016-mh

Tác dụng của lá bạch quả 

Kết quả nghiên cứu cho biết, lá bạch quả có nhiều tác dụng khác nhau khi dùng điều trị bệnh ở người. Cao ginkgo biloba có tác dụng điều hòa mạch máu, giảm nhớt máu và ngưng kết hồng cầu, ức chế yếu tố hoạt hóa tiểu cầu, ngăn chặn các gốc tự do và ổn định màng tế bào trong bệnh mạch máu não, sa sút trí tuệ, giúp bồi bổ trí nhớ. Ginkgo biloba được dùng để điều trị giai đoạn sớm của bệnh Alzheimer, sa sút trí tuệ, ù tai do mạch máu não gây nên. Nhiều nghiên cứu thử nghiệm ginkgo để điều trị bệnh mạch máu não và sa sút trí tuệ đã cho biết sản phẫm làm từ ginkgo có thể làm khả quan hơn những triệu chứng của sa sút trí tuệ. Y học cổ truyền phương Đông còn dùng quả bạch quả làm thuốc tiêu đờm, chữa hen, trị khí hư, tiêu độc, sát trùng.

Bộ phận được dùng làm thuốc là lá phơi hay sấy khô.

Các nhà khoa học châu Âu khi nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng của lá bạch quả cũng đã phát hiện được các hoạt chất có tác dụng bổ não, chống lão hóa, giúp cho người cao tuổi khôi phục trí nhớ, trị chứng ngủ gật, kém trí nhớ, hay cáu gắt của người cao tuổi. Hai hoạt chất ginkgolide B và sesquiterpene bilobalide trong chiết suất ginkgo biloba làm tăng tuần hoàn trong não, tăng sức chịu đựng của mô khi thiếu oxy được coi như là một chất bảo vệ thần kinh, chống oxy hóa, chống gốc tự do, ổn định màng và ngăn cản yếu tố kích hoạt tiểu cầu. Những tác dụng dược học khác gồm làm thư giãn nội mô qua sự ngăn chặn phosphodiesterase, ngăn chặn bớt mật độ nhầy của thụ thể choline gây nhầy, thụ thể gây tiết adrenaline, kích thích tái hấp thu choline, ngăn cản sự đóng tụ mảng beta amyloid.

Với số dân đến tuổi già mỗi lúc một nhiều hơn, số người bị sa sút trí tuệ và có vấn đề với đi lại ngày càng nhiều, ginkgo biloba được coi là một dược thảo khá an toàn, rẻ tiền. Thuốc này có thể hỗ trợ cho bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, các rối loạn tâm thần tập tính của người cao tuổi như: Rối loạn trí nhớ, giảm khả năng trí tuệ, lú lẫn và rối loạn trong hành vi cư xử. Ginkgo biloba là thuốc được lựa chọn để điều trị chóng mặt và ù tai, tổn thương võng mạc do căn nguyên thiếu máu, tắc nghẽn động mạch chi dưới mạn tính. Nó làm chậm tiến triển của bệnh và nhẹ bớt triệu chứng để giảm bớt tình trạng sa sút trí tuệ. Điều quan trọng là người bệnh phải chọn lựa kỹ lưỡng loại ginkgo muốn dùng, sản phẩm cần hội đủ tiêu chuẩn an toàn của terpene lactone và ginkgolic acid.

Lưu ý: Cao ginkgo biloba không phải là thuốc hạ áp, không dùng để thay thế cho các thuốc hạ áp. Chưa rõ tác dụng trên phụ nữ có thai, do vậy không nên dùng cho phụ nữ có thai. Không dùng dạng thuốc chích quá 25mg cho những trường hợp say rượu, nhiễm toan hay kém dung nạp fructose sorbitol, hoặc người thiếu men fructose 1,6 – diphosphatase. Cũng đừng pha loãng với các dung dịch khác. Tác dụng phụ hiếm có như rối loạn tiêu hóa, nổi mụn, nhức đầu. Ginkgo thường được dung nạp tốt, nhưng có thể tăng nguy cơ chảy máu nếu dùng chung với warfarin, thuốc chống tiểu cầu và khi dùng chung với một số dược thảo khác.

Theo – suckhoedoisong.vn

sac-mau-la-mua-thu-2016-34

Advertisements