SK-46: “Tắc nghẽn giao thông” trong mạch máu não

Recent Pages:  1, 2, 3, 4, 55a, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22,
23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48,

“Tắc nghẽn giao thông” trong mạch máu não

Do thiếu máu nuôi mà não sinh ra hàng loạt bệnh nguy hiểm. Tác nhân trực tiếp cản dòng máu lên não được biết đến là những mảng xơ vữa hay cục huyết khối. Thế nhưng, điều gì làm hình thành nên những “vật ngáng đường” này?

Các nhà khoa học gần đây đã công nhận, gốc tự do chính là nguồn gốc gây nên “tắc nghẽn giao thông” trong mạch máu.
.

Tại sao mạch máu não dễ bị tắc nghẽn?
Bộ não được nuôi dưỡng bằng những mạch máu phong phú nhất trong cơ thể. Người ta đã tính được bộ não chúng ta chứa tổng cộng tới 160.934,4 km mạch máu, đủ để cuốn trái đất 4 vòng (!). Hệ thống mạch máu não phải liên tục tải lên từ 20% – 25% lượng máu toàn cơ thể mới cung cấp đủ lượng ôxy và dưỡng chất cần thiết cho não.
Gốc tự do tấn công thành mạch máu làm hình thành mảng xơ vữa và huyết khối,
Gốc tự do tấn công thành mạch máu làm hình thành mảng xơ vữa và huyết khối,
gây nên nhiều bệnh lý mạch máu não nguy hiểm.
.

Với khối lượng “công việc” như  thế, mạch máu não quả thật vô cùng dẻo dai để có thể đảm trách nhiệm vụ nuôi não trong nhiều chục năm. Tuy nhiên, mạch máu não lại là một trong những nơi dễ bị tắc nghẽn nhất. Vì sao vậy? Đó là do mạch máu não là những mạch máu tận, khiến cho những vùng não chỉ có một đường dẫn máu nuôi duy nhất. Hơn thế nữa, mạch máu não mỗi lúc lại nhỏ dần khi len lỏi sâu trong “rừng” tế bào thần kinh. Bởi thế, nếu có một “vật ngáng đường” nào chặn giữa dòng máu nuôi não, dù có bị áp lực cơ tim làm tăng huyết áp đẩy đi thì cũng ngày càng kẹt và cuối cùng là gây ra tắc hoặc vỡ mạch.

Gốc tự do – căn nguyên của nhiều bệnh mạch máu

Bản chất vẫn là một nguyên tử  hay phân tử, nhưng do bị mất đi một electron mà gốc tự do (free radical) trở nên mất ổn định và nguy hiểm. Chúng liên tục đi cướp electron từ những phân tử khác, từ đó làm tổn hại cấu trúc tế bào và dẫn đến làm chết tế bào. Đồng thời, những nguyên tử hay phân tử bị cướp mất electron lại trở thành gốc tự do mới và tiếp tục đi gây hại.

Tại các động mạch nuôi não, gốc tự do tấn công mạnh nhất vào thành mạch, gây nên những tổn thương nghiêm trọng, dẫn đến sự  hình thành và phát triển các mảng xơ vữa và  cục huyết khối. Các “vật ngáng đường” này trực tiếp làm hẹp động mạch, cản máu vận chuyển oxy và dưỡng chất đến não, làm tế bào thần kinh thiếu năng lượng để hoạt động, ảnh hưởng tới cấu trúc, tồn tại và phát triển của hệ thần kinh, gây ra những bệnh nguy hiểm ở não, nhẹ thì có thể gây ra cơn đau nửa đầu, cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc nặng nề nhất là gây tai biến mạch máu não (còn gọi là đột quỵ não).

Cơn đau nửa đầu (Migraine)là do những biến đổi giãn nở của mạch máu não dưới sự gây hại của gốc tự do lên thành mạch. Những cơn đau nửa đầu phức tạp có thể làm ảnh hưởng tới chức năng của não, thường kèm theo chóng mặt, rối loạn thị giác, buồn nôn…

Cơn thiếu máu não thoáng qua xuất hiện khi lòng mạch hẹp chừng 70% so với bình thường. Khi ấy, các tế bào thần kinh ở trong tình trạng lảo đảo vì thiếu oxy, thiếu glucose và các chất dinh dưỡng khác, thể hiện ra bên ngoài bằng hàng loạt các triệu chứng như: đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, nặng tai, mất ngủ, đau cứng cổ, mỏi gáy và vai, tê các chi…

Tai biến mạch máu não xảy ra khi lòng mạch hẹp đến độ bị bít kín, ngăn không cho máu lưu thông. Mạch tắc hoặc vỡ khiến cho tế bào thần kinh não không được nuôi chết dần. Bệnh gây tử vong nhanh chóng hoặc để lại di chứng tàn tật suốt đời cho nạn nhân…

Chống gốc tự do, bảo vệ thành mạch máu

Với những tác hại mạnh mẽ của gốc tự do lên sức khỏe con người, các nhà khoa học  đã khuyến cáo cần quan tâm, ngăn chặn và giảm thiểu các nguồn sinh gốc tự do như: căng thẳng tâm lý/ stress, thiếu dinh dưỡng, ô nhiễm môi trường, rượu bia, khói thuốc lá, chấn thương, nhiễm khuẩn, nhiễm phóng xạ…
 .
Blueberry-1sm
Blueberry chứa nhiều hoạt chống thiên nhiên quý có tác dụng chống gốc tự do, ngăn ngừa các bệnh mạch máu não.
.

Đồng thời, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, cơ thể cần được hỗ trợ để giúp trung hòa các gốc tự do đang ngày đêm gây hại cho mạch máu bằng cách bổ sung những nguồn cung cấp các chất chống gốc tự do trong tự nhiên, như với Blueberry. Các hợp chất chống gốc tự do mạnh như anthocyanin trong Blueberry được công nhận ức chế quá trình viêm, tăng tổng hợp các men cần thiết, dọn dẹp các gốc tự do gây hại trong mạch máu. Từ đó, làm giảm hiện tượng xơ vữa, giúp giãn mạch và ngăn ngừa huyết khối hiệu quả, khơi thông dòng máu lên não.

Thêm vào đó, Blueberry còn chứa hợp chất Pterostilbene làm giảm cholesterol. Nghiên cứu của TS. Agnes M. Rimando, một nhà hóa học ở Oxford – Mississippi (Hoa Kỳ) đã cho thấy, Pterostilbene giúp kích hoạt thụ thể tế bào trực tiếp tham gia vào quá trình làm giảm cholesterol và các chất béo khác trong máu.

ST.

Yellow Rose 2017 - sm -

Cẩn Thẩn với biểu hiện tê đầu ngón tay, tê bàn tay

Bệnh tê đầu ngón tay, tê bàn tay bỗng nhiên xuất hiện khiến không ít người cảm thấy lo lắng. Tại sao lại xuất hiện tình trạng này và chúng có phải căn bệnh nguy hiểm hay không?

Biểu hiện tê tay rất đa dạng, có người bị tê phần bàn tay, gan bàn tay hay số khác chỉ tê cứng ở phần đầu ngón, chủ yếu ngón cái vs ngón tay giữa. Cảm giác tê tay khiến người mắc phải cảm thấy khó chịu, gây khó khăn trong việc cầm nắm và phát sinh tâm lí lo lắng. Mời các bạn cùng chúng tôi tìm hiểu những lí do gây ra chứng bệnh tê cứng ở tay rồi mới tìm được phương pháp điều trị phù hợp.

can-than-trieu-chung-te-dau-ngon-tay-ban-tay (3)

Bệnh tê đầu ngón tay, tê bàn tay do đâu?

1. Biểu hiện của chứng bệnh viêm dây thần kinh ngoại biên

Biểu hiện của bệnh viêm thần kinh ngoại biên: các ngón tay tê bì, xuất hiện ở cả 2 tay; vận động khó khăn, kèm cảm giác đau nhức. Thực tế có rất nhiều biểu hiện lâm sàng khác đi kèm, mỗi nguyên nhân gây bệnh viêm thần kinh thì triệu chứng sẽ có chút khác biệt.

– Độc tố gây viêm thần kinh: bên cạnh tê ngón tay còn gây ra đau nhức.

– Viêm thần kinh do trục trặc ở quá trình trao đổi chất hoặc chế độ dinh dưỡng kém chất lương: tê bì ở tay, cử động các ngón khó khăn hơn.

Quá trính diễn tiến của bệnh khá chậm, khắc phục khó, thời gian phục hồi kéo dài.

2. Bệnh tê ngón tay, bàn tay do bị thiếu máu não cục bộ

can-than-trieu-chung-te-dau-ngon-tay-ban-tay (4)

Thường xuất hiện nhiều nhất ở đối tượng cao tuổi, nên nghi ngờ trường hợp thiếu máu não nhiều hơn nếu cảm giác tê bì ở một nửa cơ thể. Các triệu chứng của thiếu máu não rất đột ngột nhưng chỉ xảy ra trong thời gian ngắn. Ngoài tê dại ở tay còn có các dấu hiệu khác như nhức đầu, choáng váng mặt mày, mệt mỏi toàn thân.

Không nên xem nhẹ chứng thiếu máu não cục bộ, khi phát hiện bất cứ biểu hiện nào ở trên hãy tìm gặp bác sĩ để kiểm tra và có thể phát hiện các nhân tố nguy hại cho hệ thống mạch mãu não.

3. Bệnh tê bàn tay xuất phát từ bệnh lý ở đốt sống cổ

can-than-trieu-chung-te-dau-ngon-tay-ban-tay (1)

Những tổn thương ở đốt sống thường gặp ở người già vì độ tuổi này đã diễn ra quá trình lão hóa, phần đốt sống không còn thực hiện chức năng tốt như trước. Nhưng thời hiện đại, số lượng người trẻ tuổi mắc bệnh ở đốt sống cổ đang tăng lên đáng kể. Lí do chính là các bạn trẻ yêu thích sử dụng công nghệ, thường xuyên cúi đầu nhìn mà hình vi tính, smart phone hay nhiều đối tượng trẻ tuổi làm công việc văn phòng ít hoạt động.

Tình trạng tổn thương ở phần đốt sống cổ có thể gặp là thoái hóa đốt sống cổ, tăng sinh đệm lót  giữa các đốt sống cổ,  bị viêm đốt sống cổ,… Phần cổ gáy có rất nhiều các dây thần kinh ngoại biên, nếu chúng bị chèn ép sẽ dẫn đến triệu chứng tê bàn tay, tê đầu ngón tay.

Chúng tôi vừa đưa ra 3 nguyên nhân gây tê bì ở các ngón tay, bàn tay nhiều nhất. Ngoài ra còn có các lý do khác như bệnh nhân bị tiểu đường, bệnh chứng ở ống cổ tay,… có ít gặp hơn nhưng cần nghi ngờ. Tốt nhất bạn hãy đến bệnh viện kiểm tra như vậy kết quả mói chính xác và rõ ràng.

ST.

Hoa Hong Tim 2017 (sm)

Tổn thương Tủy sống / Spinal Cord Injury

Tổn thương tuỷ sống (Spinal cord injury – SCI) là tổn thương đối với các dây thần kinh trong ống tủy sống; phần lớn các trường hợp SCI có nguyên nhân do chấn thương cột sống, do đó gây ảnh hưởng đến khả năng của tủy sống trong việc gửi và nhận tín hiệu từ não đến các hệ của cơ thể điều khiển cảm giác, vận động và chức năng tự trị của cơ thể dưới mức tổn thương.

Tủy sống cùng với não hình thành nên hệ thần kinh trung ương (central nervous system – CNS). Tủy sống điều phối cử động và cảm giác của cơ thể.

Tủy sống bao gồm các nơron và các sợi thần kinh dài được gọi là các sợi trục (axon). Các sợi trục trong tủy sống có nhiệm vụ truyền những tín hiệu từ bộ não xuống (dọc theo các đường nhỏ đi xuống) và truyền lên trên bộ não (dọc theo các đường nhỏ đi lên). Nhiều sợi trục ở trong những đường nhỏ này được bao bọc bởi các màng bọc của một chất tách ly có tên là myelin, làm cho các sợi trục có bề ngoài màu hơi trắng; do đó, ở vùng mà có những sợi trục tập trung được gọi là “chất trắng.”

Bản thân các tế bào thần kinh, có các nhánh giống như cây được gọi là các sợi nhánh có nhiệm vụ nhận tín hiệu từ các tế bào thần kinh, tạo nên “chất xám.” Chất xám này nằm ở vùng có dạng giống con bướm ở giữa tủy sống.

Giống như não, tủy sống được bao bọc bởi ba màng (màng não): màng mềm, lớp tận trong cùng; màng nhện, lớp giữa mỏng manh; và màng cứng, là lớp ngoài cùng cứng hơn.

tủy sống

Tủy sống được hệ thống thành các đoạn dọc theo chiều dài của cột sống. Các dây thần kinh từ mỗi đoạn tủy sống nối tới những vùng cụ thể của cơ thể. Những đoạn trong cổ, hay vùng cổ, được gọi là C1 đến C8, điều khiển những tín hiệu đến cổ, các cánh tay và bàn tay.

Những đoạn ở vùng ngực hoặc phần lưng trên (T1 đến T12) truyền tiếp các tín hiệu tới thân trên và một số phần của các cánh tay. Những đoạn ở vùng thắt lưng hay giữa lưng ngay dưới xương sườn (L1 đến L5) điều khiển các tín hiệu được gửi tới hông và chân.

Cuối cùng, các đoạn ở xương cùng (S1 đến S5) nằm ngay dưới thắt lưng ở phần giữa lưng điều khiển các tín hiệu được gửi tới háng, các ngón chân và một số phần của chân. Những ảnh hưởng của tổn thương tủy sống ở những đoạn khác nhau dọc theo cột sống làm hại lây thống này.

Một vài loại tế bào thực hiện các chức năng của tủy sống. Những nơron vận động có những sợi trục dài điều khiển các cơ xương ở phần cổ, thân trên và các chi. Các nơron cảm giác được gọi là các tế bào hạch rễ lưng tủy sống (dorsal root ganglion) nằm ngay ngoài tủy sống có các sợi trục hình thành các dây thần kinh truyền tiếp thông tin từ cơ thể vào tủy sống. Các nơron trung gian của tủy sống nằm hoàn toàn trong tủy sống có nhiệm vụ giúp tích hợp các thông tin cảm giác và phát ra các tín hiệu đã được phối hợp để điều khiển các cơ.

Tế bào thần kinh đệm, hay các tế bào hỗ trợ, đông hơn các nơron trong não rất nhiều và thực hiện nhiều chức năng cần thiết. Một loại tế bào thần kinh đệm là tế bào thần kinh đệm ít gai (oligodendrocyte), tạo ra các màng bọc myelin có nhiệm vụ cách ly các sợi trục và nâng cao tốc độ và độ tin cậy của quá trình truyền tín hiệu thần kinh. Tế bào thần kinh đệm khác bao quanh tủy sống giống như vành xe và các nan hoa của bánh xe có nhiệm vụ tạo ra các ngăn cho các đường sợi thần kinh đi lên và đi xuống.

Các tế bào hình sao là các tế bào thần kinh đệm có hình dạng giống ngôi sao lớn có nhiệm vụ điều tiết thành phần của các chất lỏng xung quanh các tế bào thần kinh. Một số trong những tế bào này cũng hình thành mô sẹo sau chấn thương. Các tế bào nhỏ hơn được gọi là tiểu thần kinh đệm cũng bị kích hoạt để phản ứng lại chấn thương và giúp dọn dẹp sạch các phế phẩm. Tất cả những tế bào thần kinh đệm này sinh ra các chất giúp nơron sống sót và tác động đến quá trình phát triển của trục sợi. Tuy nhiên, những tế bào này cũng có thể gây trở ngại cho quá trình hồi phục sau chấn thương.

Sau chấn thương, các tế bào thần kinh, hoặc các nơron của hệ thần kinh ngoại biên (peripheral nervous system – PNS), có nhiệm vụ truyền tiếp tín hiệu tới các chi, thân trên và những bộ phận khác của cơ thể đều có khả năng tự lành lại. Tuy nhiên các dây thần kinh bị tổn thương trong hệ thần kinh trung ương CNS không có khả năng tái sinh.

Các tế bào thần kinh của bộ não và tủy sống phản ứng lại chấn thương và tổn thương theo cách khác với phần lớn các tế bào khác của cơ thể, kể cả những tế bào trong hệ thần kinh ngoại biên PNS. Bộ não và tủy sống bị giới hạn trong các khoang xương bảo vệ nhưng việc này lại làm cho chúng dễ bị tổn thương sức ép do tình trạng sưng tấy hoặc chấn thương mạnh. Các tế bào của CNS có một tỷ lệ trao đổi chất cao và phụ thuộc vào lượng glucoza trong máu để sinh năng lượng – những tế bào này cần phải có lượng máu đầy đủ để hoạt động bình thường. Các tế bào CNS đặc biệt dễ bị tổn thương khi lượng máu trong luồng máu bị giảm (thiếu máu cục bộ).

Những đặc điểm duy nhất khác chỉ có ở CNS là “hàng rào máu não” (blood-brain-barrier) và “hàng rào máu tủy sống” (blood-spinal-cord barrier). Những hàng rào này do các tế bào trong các mạch máu ở CNS hình thành nên để bảo vệ các tế bào thần kinh khỏi sự xâm nhập của các chất có khả năng gây hại và các tế bào trong hệ thống miễn dịch. Chấn thương có thể làm hại những rào chắn này đồng thời góp phần làm tổn thương thêm cho bộ não và tủy sống. Hàng rào máu tủy sống cũng ngăn ngừa sự xâm nhập của một số loại thuốc điều trị có khả năng gây hại.

Cuối cùng thì trong bộ não và tủy sống, tế bào thần kinh đệm và ma trận ngoại bào (chất xung quanh tế bào) khác với những tế bào thần kinh đệm và ma trận ngoại bào ở trong cac dây thần kinh ngoại biên. Những sự khác nhau giữa hệ PNS và CNS tạo nên những phản ứng khác nhau đối với tổn thương.

So sánh tổn thương hoàn toàn với tổn thương không hoàn toàn

Sự khác nhau giữa một sự “tổn thương hoàn toàn” và “tổn thương không hoàn toàn” là gì? Những người bị tổn thương không hoàn toàn là những người có một số chức năng cảm giác hoặc vận động không cần đến bị tác động dưới mức tổn thương – tủy sống không bị tổn thương hay phá vỡ hoàn toàn. Ở trường hợp tổn thương hoàn toàn, tổn thương thần kinh làm tắc từng tín hiệu từ não chuyển đến các bộ phận của cơ thể dưới mức tổn thương.

Mặc dù phần lớn mọi người đều hy vọng cơ hội phục hồi chức năng sau tổn thương tủy sống, nhưng thường thì cơ hội phục hồi chức năng cao hơn lại ở những người bị những tổn thương không hoàn toàn.

Trong một cuộc nghiên cứu lớn về tất cả các trường hợp tổn thương tủy sống ở Colorado, theo báo cáo của Bệnh viện Craig thì chỉ một phần bảy người bị liệt hoàn toàn ngay sau tổn thương đã có được một số cử động đáng kể. Nhưng trong số những người vẫn có khả năng cử động ở hai chân ngay sau khi tổn thương thì ba phần tư trong số họ đã có những tiến triển tốt hơn.

Khoảng 2/3 trong tổng số những người bị tổn thương ở cổ mà ngay sau khi tổn thương có thể cảm thấy nhức nơi ghim kẹp ở hai chân thì cuối cũng sẽ phục hồi được cơ đủ khỏe để có thể đi lại được. Trong số những người bị tổn thương ở cổ mà ngay sau khi tổn thương chỉ có thể cảm thấy chạm nhẹ thì có khoảng 1 trong số 8 người có thể đi lại được.

Các cơ bắt đầu khôi phục lại chức năng càng sớm bao nhiêu thì càng nhiều cơ hội bấy nhiêu cho khả năng phục hồi thêm. Nhưng nếu các cơ phục hồi lại muộn hơn – sau khoảng một vài tuần đầu tiên – thì tỷ lệ phục hồi xảy ra ở các cơ cánh tay nhiều hơn các cơ ở chân.

Chỉ cần có một số cải thiện và thêm các cơ phục hồi được chức năng thì cơ hội được phục hồi tốt hơn là có thể xảy ra.

Nếu sự phục hồi không diễn ra càng lâu bao nhiêu thì tỷ lệ phục hồi càng ít hơn bấy nhiêu.

Những con số thống kê

Xấp xỉ 450.000 người ở Hoa Kỳ bị tổn thương tủy sống do chấn thương, với hơn 10.000 trường hợp SCI mới mỗi năm. Trong tổng số những người bị tổn thương tủy sống thì nam giới chiếm khoảng 82 phần trăm và còn lại là nữ giới 18 phần trăm.

Các trường hợp tổn thương tủy sống phần lớn đều có nguyên nhân từ tai nạn phương tiện gắn máy. Những nguyên nhân thường gặp tiếp theo là ngã và hành động bạo lực. Những tổn thương tủy sống liên quan tới thể thao thường gặp ở trẻ em và tuổi vị thành niên, trong khi những tổn thương tủy sống liên quan đến công việc (đặc biệt là từ công trình xây dựng) chủ yếu xảy ra ở người lớn.

Phần lớn những bệnh nhân tổn thương tủy sống là ở độ tuổi vị thành niên hoặc ở lứa tuổi đôi mươi. Trong số đó xấp xỉ có 80% là nam giới. Tỷ lệ tổn thương ở nam giới giảm ở độ tuổi trên 65, lứa tuổi trở thành cơ chế tổn thương tủy sống phổ biến nhất. Hơn một nửa trong tổng số các trường hợp tổn thương tủy sống xảy ra ở vùng cổ, ví dụ như ngay tại cổ. Gần một phần ba trong số các trường hợp xảy ra ở vùng ngực (nơi xương sườn dính vào cột sống). Số còn lại xảy ra ở vùng thắt lưng, ví dụ như ở vùng lưng dưới.

Hiện tại không có phương thức chữa trị nào đối với những tổn thương tủy sống. Tuy nhiên, cuộc nghiên cứu đang được thực hiện để thử các liệu pháp phẫu thuật và thuốc đang tiến triển nhanh chóng. Các phương pháp điều trị bằng thuốc ngăn ngừa diễn tiến của tình trạng tổn thương, phẫu thuật giảm sức ép, cấy tế bào thần kinh, tái tạo thần kinh, và các liệu pháp điều trị thuốc phức tạp đang được kiểm tra như là những phương pháp điều trị để vượt qua những ảnh hưởng của tình trạng tổn thương tủy sống.

Nguồn: Hiệp hội Phẫu thuật Gia Hệ Thần kinh Hoa Kỳ (American Association of Neurological Surgeons), Bệnh viện Craig, Sáng hội Christopher và Dana Reeve, Viện Nghiên Cứu Quốc Gia về Những Rối Loạn Hệ Thần Kinh và Đột Quỵ (National Institute of Neurological Disorders and Stroke)

Hoa Ngoc Lan vang 2017 (sm)

Sơ lược về chức năng hệ thần kinh

Tổng quan cấu trúc và chức năng của neuron

Hệ thần kinh được tạo ra bởi các tế bào chuyên biệt bao gồm: neuron và tế bào thần kinh đệm. Neuron là đơn vị chức năng cơ bản của hệ thần kinh. Nó sinh ra các tín hiệu điện cho phép truyền đạt thông tin một các nhanh chóng được gọi là điện thế hoạt động. Tế bào thần kinh đệm có vai trò hỗ trự cho các neuron và là những tế bào thiết yếu của hệ thần kinh.

Neuron, tế bào thần kinh đệm và hệ thống thần kinh, chức năng của các neuron và cách thức mà các neuron xử lý và đáp ứng với các thông tin:

+ Ở người và các động vật có xương sống, hệ thống thần kinh được chia ra: hệ thống thần kinh trung ương và hệ thống thần kinh ngoại vi. Hệ thống thần kinh trung ương (central nervous system – CNS) bao gồm não và tủy sống. Đây là nơi diễn ra qụá trình xử lý thông tin. Hệ thống thần kinh ngoại vi (peripheral nervous system – PNS) bao gồm các neuron và các thành phần của neuron ờ ngoài hệ thần kinh trung ương. Chúng bao gồm neuron cảm giác và neuron vận động.

+ Thân của một số neuron thần kinh ngoại vi, các neuron vận động hệ cơ xương (cơ tử chi), nằm ở hệ thần kinh trung ương. Những neuron vận động này có sợi trục chạy dài từ hệ thống thần kinh trung ương đến hệ thống cơ mà nó chi phối. Thân của các neuron cảm giác (cung cấp thông tin xúc giác, vị trí, đau và nhiệt độ) nằm ở ganglia (hạch thần kinh) ngoài hệ thần kinh trung ương.

Sợi trục của các neuron thần kinh ngoại vi tạo thành các sợi thần kinh.

Dựa vào vai trò thì các neuron ở hệ thần kinh của người được chia làm 3 loại: neuron cảm giác, neuron vận động và neuron trung gian.

Các neuron cảm giác tiếp nhận thông tin từ các tác động nội tại hoặc ngoại lai và đưa đến hệ thần kinh trung ương. Neuron vận động tiếp nhận thông tin từ các neuron khác và truyền đạt mệnh lệnh đến hệ thống cơ, nội tạng, các tuyến.

Các neuron trung gian chỉ khu trú ở thần kinh trung ương, có vai trò kết nối neuron với một neuron khác. Các neuron trung gian chiếm số lượng nhiều nhất và tham gia vào quá trình xử lý thông tin kể cả trong cung phản xạ đơn giản và cung phản xạ phức tạp ở não.

+ Các neuron có 3 chức năng cơ bản của sau:

  • Tiếp nhận tín hiệu (thông tin): chức năng đầu tiên của neuron (tiếp nhận và xử lý thông tin đầu vào) thường diễn ra ở sợi nhánh và thân tế bào. Các tín hiệu đầu vào có thể là tín hiệu kích thích hoặc ức chế.
  • Kết nối các tín hiệu đầu vào (xác định liệu thông tin có nên được truyền qua hay không).
  • Truyền tín hiệu đến các tế bào đích (các neuron khác, hệ thống cơ hoặc các tuyến).

Chức năng của các neuron được thể hiện ở hình thái: Neuron, cũng như các tế bào khác, có thân tế bào (gọi là soma) chứa nhân, neuron tổng hợp nhiều protein ở trong tương bào.

Nhiều sợi thần kinh xuất phát ra từ thân neuron. Bao gồm các sợi thần kinh nhánh ngắn gọi là sợi nhánh (dendrites) và một sợi đơn dài điển hình hơn các sợi nhánh gọi là sợi trục (axon).

+ Cấu trúc của neuron: tận cùng của mỗi gốc thân neuron là các sợi nhánh. Điểm xuất phát của sợi trục kéo dài từ một đầu tận cùng cùa thân tế bào có một chỗ lồi ra dạng hình ống mảnh gọi là đôi axon. Sợi trục được bao bọc bởi myelin thành từng đoạn, phần không được bao bọc bởi myelin nằm giữa các đoạn này.

Phần cuối axon được chia thành nhiều tận cùng axon. Mỗi đầu tận cùng này tạo thành một si – náp với sợi nhánh hoặc thân của một neuron khác. Neuron có đầu tận cùng axon gọi là tế bào tiên si – náp (presynaptic cell), còn các neuron có sợi nhánh hoặc thân gọi là tế bào hậu si – náp (postsynapsetic cell). Thông tin được truyền giữa các tế bào qua khe si – náp. Khi điện thế hoạt động được truyền đến tận cùng axon, nó kích thích tế bào trước si – náp giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh. Các chất này được khuếch tán qua khe si – náp đến gắn với các thụ cảm thể ở màng sau si – náp.

Si – náp: các neuron kết nối với nhau tại các sợi nhánh và thân của neuron khác thông qua si – náp. Tại đây thông tin được truyền từ neuron đầu tiên (neuron tiền si – náp) đến neuron đích (neuron hậu si – náp). Thông tin được dẫn truyền qua các si – náp thông qua các chất dẫn truỵên thân kinh. Khi điện thê hoạt động lan truyền đến tận cùng axon, nó kích thích giải phóng chất dẫn truyền thần kinh từ màng trước si – náp e. Các chất này xuyên qua khe si – náp gắn vào các thụ cảm thể ờ màng sau si – náp để truyền đạt các tín hiệu hưng phấn hoặc ức chế. Vì vậy chức năng thứ 3 cùa neuron là truyền đạt thông tin đến các tế bào đích được thực hiện bởi sợi trục và các tận cùng axon. Một neuron có thể tiếp nhận nhiều tín hiệu đầu vào từ nhiều các neuron tiền si – náp và cũng cỏ thể tạo nhiều liên kết si – náp với nhiều neuron hậu si – náp thông qua các tận cùng axon khác nhau.

  • Hệ thống mạng lưới các neuron: một neuron riêng biệt, tự bản thân nó không thể thực hiện được chức năng của hệ thần kinh. Chức năng này phụ thuộc hệ thống các neuron kết nối với nhau để kích thích hoặc ức chế các hoạt động của nhau tạo thành các cung phản xạ có thể thu nhận thông tin và sinh ra các đáp ứng.9
  • Tế bào thần kinh đệm: hệ thống thần kinh được tạo thành từ hai loại tế bào, neuron và tế bào thần kinh đệm, với các neuron hoạt động nhự là đơn vị chức năng cơ bản củạ hệ thống thần kinh và thần kinh đệm đóng vai trò hỗ trợ. Giống như là một diễn viên hỗ trự rất cần thiết cho thành công của một bộ phim, thần kinh đệm rất can thiết cho chức năng hệ thần kinh.

+ Có 4 loại tế bào thần kinh đệm ở hệ thống thần kinh ờ người trưởng thành. Ba trong số chúng là, tế bào sao (astrocytes), tế bào ít nhánh (oligodendrocytes), và tế bào tiểu thần kinh đệm (microglia), chỉ được tìm thấy trong hệ thần kinh trung ương. Tế bào thứ tư là tế bào Schwann chỉ có ở hệ thần kinh ngoại vi.

+ Các loại tế bào thần kinh đệm và chức năng của chúng:

  • Tế bào sao chiếm số lượng nhiều nhất trong các loại tế bào thần kinh đệm và là tế bào có số lượng nhiều nhất ở não bộ.

Tế bào sao có nhiều loại và có nhiều chức năng. Chúng giúp điều tiết lưu lượng máu não, duy trì thành phần của dịch quanh neuron và điều chỉnh sự kết nối giữa các neuron tại các si – náp.

Trong suốt quá trình phát triển, tế bào sao giúp các neuron tìm được điểm đến và góp phần hình thành hàng rào máu – não, hàng rào này giúp ngăn cản các chất độc hại tiềm ẩn trong máu đi vào não.

  • Tiểu thần kinh đệm liên quan đến đại thực bào của hệ thống miễn dịch và hoạt động tiêu hóa các tế bào chết và các mảnh vụn khác.
  • Tế bào ít nhánh của hệ thần kinh trung ương và tế bào Schwann của hệ thần kinh ngoại vi có cùng chức năng. Cả hai loại tế bào thần kinh này đều sản xuất myelin, một chất cách điện tạo nên vỏ bọc xung quanh các sợi trục của nhiều neuron. Myelin làm tăng tốc độ

đáng kể với hoạt động hướng xuống sợi trục và nó đóng vai trò quan trọng trong chức năng của hệ thần kinh trung ương.

  • Tế bào lót ống nội tủy nằm từ não thất tới các kênh trung tâm tủy sống, có những lông mao giống như sợi tóc va đập vào nhau thúc đẩy sự lưu thông của dịch não – tủy bên trong não thất và khoang tủy sống.
  • Các neuron phát triển một cấu trúc phân cực cao gồm nhiều sợi nhánh và một sợi trục dọc theo sự điều khiển của xung dẫn truyền. Các sợi trục thường dài, trong trường hợp các neuron vận động ở tủy sống, một sợi dài xấp xỉ 1 mét. Điều thú vị là, hầu hết các protein cần thiết cho sợi trục và tận cùng si – náp phải được vận chuyển xuống dưới sợi trục sau khi tổng hợp ở thân tế bào. Vì thế, vận chuyển nội bào là chủ yếu đảm bảo cho hình thái, chức năng và sự sống sót của tế bào thần kinh.
  • Sự dẫn truyền thần kinh:

+ Các mô não một thời gian dài được cho là một hợp bào. Các nhà mô học cổ điển cho rằng bào tương của mỗi tế bào là một và não bộ là cơ quan đa bào giống như nấm, quan niệm này đã bị bác bỏ bởi Santiago Ramón y Cajal, đã tìm thấy răng mô não được tạo thành từ những tế bào – neuron, được phân cách nhau bởi các khe mỏng đặc biệt là synap.

+ Có 2 loại si – náp • Si – náp điện.

. Các si – náp hóa học: Hầu hết si – náp trong cơ thể người là si – náp hóa học. Đặc tính của chúng là: neuron thứ nhất tiết ra một chất ở cuối sợi trục gọi là chất dẫn truyền thần kinh (neurontransmitter), chất này được tiếp nhận bởi một thụ cảm thể tương ứng (receptor) ở sợi nhánh, thậm chí là sợi trục của neuron thứ hai, nơi mà tạo ra những thay đổi chuyên biệt (phụ thuộc vào loại recepror).

Một trong những đặc tính quan trọng nhất của các si – náp đó là dẫn truyền một chiều. Neuron thứ nhất tiết ra chất dẫn truyền và được gọi là màng trước si – náp và các sợi trục của nó kết thúc ở neuron tiếp theo với một receptor thích hợp ở màng huyết tương (plasmatic membrane) – ờ màng sau si – náp. Mặc dù điện thế hoạt động có thể phát sinh mọi nơi ở màng của neuron và sau đó lan rộng theo cả 2 chiều hướng, nhưng nó bị mờ dần ở sợi nhánh, bởi vì không có các cấu trúc phân tử sinh học đáp ứng với hiện tượng xuất bào của túi chứa chất dẫn truyền thần kinh. Sự phát xung thần kinh (điện thế hoạt động) tới neuron tiếp theo trở thành con đường duy nhất cho kết thúc của sợi trục. Nguyên tắc này rất quan trọng vì làm cho hệ thần kinh có khả năng điều khiển tín hiệu duy nhất tới những vùng đặc thù. Bởi vậy, những xung động có thể rất hiệu quả và chuyên biệt.

Giải phẫu chức năng của hệ thần kinh

Não bộ

Bán cầu não

Não bộ bao gồm hai bán cầu đại não và là phần cao cấp nhất của hệ thần kinh trung ương có các chức năng cảm giác, vận động và nhận thức. Hai bán cầu não được ngăn cách bởi khe dọc giữa và nối kết với nhau bởi thể chai. Các vùng khác nhau của vỏ não trong cùng một bán cầu liên hệ với nhau nhờ các sợi liên kết và vỏ não thì liên hệ với các tầng thấp hơn của hệ thần kinh trung ương như thân não, tủy sống thông qua các phóng chiếu đi lên và đi xuống.

Các cấu trúc chính của bán cầu gồm có lớp chất xám tạo nên vỏ não ở ngoài cùng, kế đến là chất trắng ở phía dưới vốn được cấu tạo bởi các sợi liên kết và sợi phóng chiếu. Tại đáy của mỗi bán cầụ còn có những khối chất xám gồm các hạch đáy và các cấu trúc của gian não như phần trên đồ thị, đồi thị, phần tiếp sau đồi thị, phần dưới đồi và phần hạ đồi.

Mỗi bán cầu đại não lại được phân biệt ra thành nhiều thùy vốn được ranh giới hóa nhờ các khe, rãnh như khe Rolando, rãnh Sylvius. Có 4 thùy chính gồm thùy trán, thùy đỉnh, thùy thái dương và thùy chẩm và hai thùy nhỏ là thùy đảo, khứu não

  • Thùy trán: chiếm 1/3 trước củạ mỗi bề mặt ngoài bán cầu, ở phía trước rãnh Rolando, có 4 hồi chính là hồi trước trung tâm, hồi trán trên, hồi trán giữa và hồi trán dưới. Hồi trán trên là một trong những diện vỏ não quan trọng nhất vì là nơi có các neuron vận động đảm nhiệm chức năng vận động của thân thể và đầu mặt. Sự phân bố của các neuron vận động theo trình tự lộn ngược, các phân của cơ thể đi lần lượt từ dưới lên trên là vùng mặt, kế đến là chi trên, thân mình và chi dưới ở trước rãnh trung tâm. Đáng chú ý là các neuron vận động phụ trách các chi thì chủ yếu bắt chéo (chi phối vận động chi bên đối diện) và các neuron phụ trách vận động của các dây thân kinh sọ thì chi phối xuống cả hai bên thân não. Hồi trán giữa cỏ chứa diện Brodmann 8 là trung khu quan trọng của cử động quay mắt quay đầu sang bên đối diện. Trung khu ngôn ngữ Broca thuộc hồi trán dưới ở bán cầu ưu thế (bán cầu trái) có chức năng diễn đạt ngôn ngữ.
  • Thùy đỉnh: ở sau rãnh Rolando, có 5 hồi cấu tạo nên thùy đỉnh. Hồi sau rãnh trung tâm đựợc gọi là diện cảm giác có phân bố hình người lộn ngược giống như diện vận động và là nơi tiêp nhận các đường cảm giác hướng tâm của nửa người bên đối diện.
  • Thùy thái dương: mặt ngoài của thùy thái dương có 3 hồi gồm thái dương trên, thái dương giữa và thái dương dưới. Hồi thái dương trên có diện thính giác và diện Wernicke là trung khu tiếp nhận ngôn ngữ giác quan, ở mặt trong thùy thái dương có hồi hình thoi và hồi hải mã.
  • Thùy chẩm: chiếm diện tích nhỏ của mặt ngoài cực sau của bận cầu não. Mặt trong của thùy chẩm có khe cựa chạy dọc và chia mặt trong thùy chẩm thành hồi chêm ở phía trên và hồi lưỡi ở phía dưới. Thùy chẩm có diện thị giác.

Mặt trong của bán cầu não có hồi viền, hồi hải mã và hồi móc. Thùy viền (limbic) là thuật ngữ bao gồm các phức hợp: hồi viền, eo, hồi hải mã, hạnh nhân và các nhân vách. Hồi viền bao quanh thể chai được cấu tạo bởi các mép liên kết giữa hai bán cầu não.

Thân não

Thành phần gồm có hành não, cầu não, cuống não và củ não sinh tư. Các cậu trúc hành, cầu, cuống não có cấu trúc giống như tủy sống, thực chát phần lớn các thành phần là bộ máy khoanh đoạn đối với bán cầu cũng như tủỵ sống là bộ máy khoanh đoạn đối với thân và chi. Ví dụ như các nhân vận động dây XI là sự tiếp tục lên phía trên của sừng trước tủy sống thì nhân dây thân kinh sọ não còn lại “bị cắt” thành từng nhóm tế bào riêng biệt chứ không phải là một cột chất xám liên tiếp như ở tủy sống. Chất xám: hay là các nhân của thân não, chủ yếu là những tổ chức nhân của dây thần kinh sọ não. Chất trắng: quá trình phát triển chuyển từ tủy sống thành hành não, ống nội tủy ờ trung tâm chuyển dần rộng lên phía lưng và phát triển thành não thất IV.

ở hành não: nhân vận động dây XII; nhân cảm giác dây V kéo dài suốt hành não và tận cùng đi vào 1/3 sau của cầu não; nhân vận động và cảm giác của dây IX, X, XI; nhân cột sau (Goll, Burdach) là một đám tế bào thuộc neuron thứ 2 của đường dẫn truyền xúc giác và cảm giác cơ khớp. Chất lưới là một tập hợp tế bào thần kinh, chứa đựng trung khu hô hấp và tuần hoàn.

Cầu não: nhân vận động dây VII, nhận cảm giác dây VIII (thính giác và tiền đình), nhân vận động dây VI; nhân vận động dây V và chất lưới từ hành nó đi lên.

Cuống não và củ não sinh tư ở đáy cống Sylvius: nhân dây III, nhân dây IV; liềm đen thuộc hệ ngoại tháp, nhân đỏ liên quan với hệ ngoại tháp và tiểu não, tập hợp tế bào ở vùng củ não sinh tư trước và sau là các trung tâm phản xạ thị giác và thính giác, các nhân của bó dọc sau; tổ chức lưới từ cầu não lên.

Tiểu não

Nằm ở hố sau, bên dưới đại não, phía sau cầu não và hành não, tạo thành mái của não thất IV. Tiểu não gồm vỏ tiểu não, chất trắng dưới vỏ và các nhận trụng tâm. vỏ tiểu não có lớp ngoài cùng gồm các neuron và các sợi xếp lại thành nhiều nếp giống vỏ đại não nhưng nhỏ hơn nhiều. Chất trắng dưới vỏ gồm các sợi trục hướng tâm và ly tâm. Các nhân trung tâm nằm ở sâu trong chất trắng.

Về chức năng của tiểụ não phân chia thành ba thùy xếp cạnh nhau từ trước ra sau thuộc về cả thuỳ giun lẫn bán cầu tiểu não. Tiểu não có chức năng duy trì tư thế và phối hợp vận động, chức năng này liên quan đến kết nối giữa nhiều phần khác nhau hệ thần kinh trung ương và vùng chuyên biệt của tiểu não bao gồm: tiểu não – tiền đình, chức năng chính là duỵ trì tư thế và phản xạ tiền đình; tiểu não-tủy sống, kiểm soát hệ cơ ở trục và ngoại biên, điều hòa trương lực cơ; tiểu não – vỏ não, chức năng gồm sự khởi đầu, phối hợp và quyết định thời gian vận động, đặc biệt là vận động hữu ý chính xác.

Tủy sống

Tủy sống là một mô thần kinh hình trụ, nằm trong ống sống, kéo dài từ lỗ chẩm đến bờ trên trên đốt sống L2 và được bao bọc bởi màng nuôi, màng nhện và màng cứng. Tủy sông có hai đoạn phình là phình cổ từ C5 – T1 tương ứng với đám rối thần kinh cánh tay chi phôi cơ chi trên và phình thắt lưng L1 – L4 cho đám rối thắt lưng chi phối cơ chi dưới. Dưới đoạn phình thắt lưng, tủy sống thu nhỏ lại tạo thành chóp cùng và tận cùng là dây tận bám vào xương cụt. Tủy sống có 31 khoanh tủy, được chia làm 8 khoanh tủy cổ, 12 khoanh tủy ngực, 5 khoanh tủy bụng, 5 khoanh tủy cùng và 1 khoanh tủy cụt. Mỗi khoanh tủy cho ra rễ trước và rễ sau, rễ sạu có một chỗ phình lớn hình bầu dục chứa tế bào cảm giác. Rễ trước và sau họp lại thành rễ thần kinh sống (có 31 cặp rễ), đi qua lỗ liên hợp tạo thành dây thần kinh sống. Chùm đuôi ngựa là tập hợp các rễ thắt lưng và cùng bao quanh dây tận.

Màng não – tủy

Não và tủy sống được bao quanh bởi hệ thống màng não và dịch não tủy. Dịch não tủy được sản xuất và lưu thông trong hệ thống não thất, đi vào khoang dưới nhện và được hấp thu, vì vậy có rất nhiều thay đổi trong quá trình bệnh lý tại não cũng như màng não. Nằm trong nhu mô não là hệ thống năm khoang thông nối với nhau, các khoang được lót bởi màng não thất và chứa đầy dịch não tủy bao gồm hai não thất bên, một não thất III, cống Sylvius và não thất IV.

Cung cấp máu cho não

Các động mạch cung cấp máu cho não gồm hai hệ động mạch là động mạch cảnh và động mạch đốt sống thân nền. Hệ thống nối thông giữa các hệ động mạch tạo nên vòng đa giác Willis, nằm ở nền sọ, từ đó xuất phát ra các động mạch não. Có ba tầng bàng hệ hỗ trự chức năng tưới máu: tầng thứ nhất là các đường động mạch cảnh trong, động mạch đốt sống thân nền; tầng thứ hai là vòng đa giác Willis; vòng thứ ba là bàng hệ vỏ não-màng nuôi, là những nhánh động mạch tận, động mạch não giữa, não trước và các nhánh tận của động mạch thân nền. Trọng lượng của não chỉ chiếm chừng 2% trọng lượng toàn bộ cơ thể, nhưng được cung cấp tới 1/6 lưu lượng tuần hoàn từ tim và tiêu thụ một phần năm oxy đưa vào cơ thể. Một gam não cần có lưu lượng tuần hoàn là 55ml trong một phút, một khối lượng máu gấp 25 lần so với một tổ chức có cân nặng tương tự nhưng ờ trạng thái nghỉ.

Góp nhặt 2017

Summer 2017 -sm-

Sức mạnh tiềm ẩn bên trong những “cơ bắp”

Đó là những cơ bắp với sức mạnh siêu nhiên mà chúng ta ai cũng sở hữu song lại không mảy may để ý chút nào.

Cơ thể con người là một khối thống nhất hoàn hảo. Mọi bộ phận trong khối thống nhất ấy đều có sự liên quan và kết nối với nhau dưới sự điều khiển của bộ não và trái tim.
Tuy nhiên, ít ai biết rằng, ngoài hai cơ quan nói trên, cơ thể người còn sở hữu một thứ cơ bắp “thần thánh” với khả năng vô cùng đặc biệt – có thể thay đổi cảm xúc, tâm trạng của chúng ta trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đó chính là “cơ bắp của tâm hồn”.
“Cơ bắp của tâm hồn” – cái tên lạ mà quen
Thông thường, nhắc tới hai từ cơ bắp, chắc chắn chúng ta sẽ đều nghĩ ngay tới hình ảnh những chàng trai có thân hình lực sĩ, đồ sộ với các thớ thịt rắn chắc, nổi cuồn cuộn. Vì lẽ ấy mà cái tên “cơ bắp của tâm hồn” nghe thật lạ, thật vô lý và không hợp logic.
Song cái tên này thực chất dùng để chỉ một nhóm cơ vô cùng quen thuộc trong cơ thể người: cơ thắt lưng. Vậy tại sao chúng lại sở hữu cái tên mĩ miều tới vậy?
Đó là vì nhóm cơ này nắm giữ quyền lực vô cùng to lớn: quyết định toàn bộ sự cân bằng của con người, đồng thời điều khiển ngay chính cảm xúc của mỗi chúng ta.
.Tuy song 2
.
Quyền lực tối thượng ấy là gì?
Dưới góc nhìn khoa học, nhóm “cơ bắp của tâm hồn” được xem như phần cốt lõi cơ thể và được lưu ý nhiều nhất trong các bài trị liệu yoga. Các cơ nằm gần xương hông này ảnh hưởng đến tính di động, sự cân bằng cơ thể, chức năng khớp, tính linh hoạt, và nhiều vai trò khác nữa.
Ngoài chức năng giúp giữ cơ thể đứng thẳng và di chuyển, các cơ thắt lưng còn cho phép bạn kiểm soát cảm xúc và sự căng thẳng của tâm trí.

Chuyên gia sức khỏe Liz Koch, tác giả của cuốn “The Book Psoas” từng cho rằng: cơ thắt lưng theo nghĩa đen là hiện thân của sự sống còn – niềm thôi thúc sâu xa nhất trong con người cũng như khao khát để vươn lên.

Điều này có nghĩa, cơ thắt lưng có rất nhiều khả năng hơn so với suy nghĩ ban đầu của chúng ta. Nhờ có chúng, con người hoàn toàn có thể khai thác năng lượng chữa bệnh từ yếu tố “khí” như trong các môn võ cổ đại Trung Hoa hay bộ môn Yoga của Ấn Độ. Nếu chăm sóc tốt, “cơ bắp của tâm hồn” khỏe tất yếu sẽ giúp ta có sức khỏe cả về thể chất lẫn tâm hồn.
Điều gì sẽ xảy ra nếu cơ thể thiếu đi “cơ bắp của tâm hồn”
Để hiểu rõ hơn quyền lực tối thượng nơi “cơ bắp của tâm hồn”, trước tiên chúng ta cần hiểu rõ vai trò của chúng đối với mỗi con người.
 .
Về mặt thể chất, nhóm cơ này gắn liền với sự ổn định và cân bằng của cơ thể. Cơ thắt lưng trải dài từ chân đến cột sống và là cơ bắp duy nhất kết nối 2 bộ phận trên. Chúng lộ diện ở đốt sống ngực thứ 12, chạy dọc xuống tới đốt sống thắt lưng thứ 5 trước khi gắn vào đỉnh của xương đùi.
Ngoài kết nối chân với cột sống, cơ thắt lưng còn kết nối với cơ hoành. Hơi thở của chúng ta được điều tiết bởi cơ hoành, và đây cũng là vị trí mà nhiều triệu chứng sinh lý liên quan với nỗi sợ hãi và lo lắng hiển thị.
 .
Về mặt tâm hồn, Koch tin rằng tồn tại một sự liên kết trực tiếp giữa cơ thắt lưng với phần cổ nhất của cuống não và tủy sống có tên gọi  “não bò sát”.
.

Theo Koch, thời gian rất lâu trước khi vùng vỏ não phụ trách lời nói hay khả năng tổ chức phát triển, “não bò sát” đã xuất hiện và đảm nhiệm bản năng sinh tồn, duy trì các chức năng cốt lõi cần thiết của chúng ta.
 .
Cách chúng ta sống ngày hôm nay, liên tục tiến lên, cạnh tranh và giành lấy thành tựu là nhờ các cơ thắt lưng đã luôn duy trì trạng thái “chiến đấu hay bỏ chạy”.
Luôn trong trạng thái “chiến đấu hay bỏ chạy”, “cơ bắp của tâm hồn” được ép chặt và khít lại ngay từ lúc mới sinh ra. Trong cuộc sống hiện đại, cơ thắt lưng càng phải chịu áp lực nhiều hơn từ các ghế ngồi trên xe, bộ quần áo bó sát, giầy cao gót…
Điều này đã bóp méo các tư thế tự nhiên của con người và khiến cơ thắt lưng ngày càng khít hơn. Những áp lực mãn tính lên cơ thắt lưng có thể dẫn đến nhiều vấn đề như đau lưng, hông, đầu gối, các vấn đề tiêu hóa và thậm chí rối loạn chức năng thở.
.

Các cơn đau thể chất không chỉ là tác hại duy nhất của việc cơ thắt lưng bị áp lực lâu ngày. Áp lực lên phần cơ này ảnh hưởng đến tất cả các yếu tố của cuộc sống, bao gồm cách bạn nhìn nhận và tận hưởng thế giới và kể cả cách đối xử với những người xung quanh.
Một loạt các vấn đề có liên quan đến việc cơ thắt lưng bị stress kinh niên, đó là ảnh hưởng tiêu cực đến trạng thái cảm xúc, đến mối quan hệ với người xung quanh và thậm chí là sự mãn nguyện với cuộc sống .
Bí kíp khơi nguồn sức mạnh của nhóm cơ
Dù sở hữu vai trò to lớn trong cơ thể nhưng không nhiều người để ý tới cơ thắt lưng cũng như biết cách chăm sóc chúng. Theo các chuyên gia, để khơi nguồn tiềm năng của nhóm cơ này, bạn chỉ cần thường xuyên thư giãn, thực hành các bài tập kéo căng và duỗi cơ thể.
.
Khi “cơ bắp của tâm hồn” được thả lỏng, năng lượng trong cơ thể sẽ được tái sinh để duy trì sự cân bằng vốn có của mỗi người.
Đồng thời, khi cơ bắp này thoải mái, não bộ cũng vì thế mà sản sinh nhiều hormone tích cực, thúc đẩy việc gia tăng niềm vui và mức độ hài lòng đối với cuộc sống.
 .
Nguồn: Spirit Science, Metaphysics
.
Garden !
Advertisements